|
|
|
|
|
|
Click để phóng to hình
|
Là một dự án hợp tác song phương, dự án SMNR-CV duy trì các mối quan hệ công việc chặt chẽ với các đối tác cả hai phía Việt Nam và phía Đức. Trong sơ đồ minh hoạ dưới đây, các mối quan hệ này được mô tả bằng các mũi tên. Các mũi tên này thể hiện trách nhiệm báo cáo (màu đen), hướng dẫn hoặc hỗ trợ (màu đỏ), mạng lưới làm việc bên ngoài (màu xanh da trời) hoặc các mối quan hệ như hoạt động thường xuyên của dự án (màu xanh lá cây).
|
 |
|
Các đối tác phía Việt Nam “Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình” (UBND) là chủ chính thức của dự án SMNR-CV. Trên cơ sở các cuộc họp định kỳ với Ban Quản lý Dự án và các báo cáo do Giám đốc Dự án phía Việt Nam cung cấp, chức năng lãnh đạo của UBND tỉnh chỉ liên quan đến các ưu tiên chính cũng như các chiến lược thực hiện dự án nhưng không có mối liên quan nào đến mọi hoạt động hàng ngày của dự án. UBND tỉnh hỗ trợ tất cả các cán bộ dự án làm việc chính thức bên phía Việt Nam khi cần thiết. Đồng thời, UBND tỉnh cũng hỗ trợ xây dựng 2 khu nhà văn phòng cho dự án (bao gồm tất cả các chi phí hoạt động) cũng như cung cấp các sự hỗ trợ khác như đã cam kết trong thoả thuận giữa hai bên khi thực hiện dự án.
Đến năm 2006, vai trò “Chủ dự án” vẫn thuộc về “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” Việt Nam. Tháng 11 năm 2006, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 131/2006/ND-CP về việc “Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA” nhằm giúp các đơn vị hành chính phân cấp (chẳng hạn như UBND các tỉnh, thành phố, các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh...v/v) đảm đương toàn bộ trách nhiệm của họ. Tuy nhiên, các chủ dự án phân cấp, ví dụ như UBND tỉnh Quảng Bình, vẫn có trách nhiệm báo cáo lên Bộ KHĐT về một số vấn đề (như tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA, trình bày các cuộc thương lượng giữa hai chính phủ...v/v) và tiếp nhận “sự hướng dẫn” về các vấn đề khác mang tính chiến lược hơn. Vì vậy, trong hai năm qua các mối quan hệ về mặt thể chế giữa dự án SMNR-CV và Bộ KHĐT trở nên yếu đi. Tuy nhiên, sự liên lạc giữa các cá nhân vẫn được duy trì.
Các mối quan hệ công việc của dự án với các bộ cấp quốc gia đôi khi vẫn rất chặt chẽ, tuỳ thuộc vào các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể, nhưng thông thường các mối quan hệ này thường gián tiếp thông qua các dự án khác của GTZ ở cấp quốc gia. Ví dụ, “Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NNPTNT)” đã hỗ trợ dự án trong việc biên soạn tài liệu chỉnh sửa mang tính pháp lý về bảo vệ rừng và đang hỗ trợ nhóm công tác liên bộ giữa Bộ NNPTNT và “Bộ Tài nguyên và Môi trường” (TNMT) trong việc chỉnh sửa, bổ sung tài liệu về giao đất giao rừng. Ngoài ra, còn có sự hỗ trợ của Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội (LĐTBXH) trong việc xây dựng chương trình quốc gia mở rộng về xoá đói giám nghèo ở 61 huyện. – Mặc dù, các hoạt động này hạn chế về mặt thời gian nhưng đó là cơ hội mang lại sự đóng góp từ dưới lên và đó là đòn bẩy đối với các quá trình cải cách của quốc gia.
Các đối tác chính của Dự án SMNR-CV ở cấp độ hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình là các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, bao gồm “Sở Kế hoạch và Đầu tư” (KHĐT) và “Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” (NNPTNT). Hầu hết các ban ngành trực thuộc Sở NNPTNT là “Chi cục Kiểm lâm” và “Trung tâm Khuyến nông- Khuyến lâm” (KNKL). Giám đốc của các sở và các ban ngành trực thuộc sở nêu trên cũng như các cán bộ kỹ thuật chủ chốt là những người chịu trách nhiệm chính. Việc đạt được hơn một nữa các chỉ tiêu bắt buộc trong hệ thống tham chiếu chỉ tiêu Dự án phụ thuộc vào các mối quan hệ công việc tốt với các cơ quan đối tác này.
Với sự hỗ trợ của Dự án, các cơ quan, ban ngành liên quan đã thành lập các nhóm được gọi là “Các nhóm Tham vấn cấp tỉnh”. Các nhóm Tham vấn này trở thành trung tâm hợp tác của tất cả các lĩnh vực hoạt động.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đã thành lập lại nhóm “Phát triển thôn bản” (VDP) thành nhóm “Lập kế hoạch có sự tham gia” (LKH) với nhiệm vụ cụ thể hơn và cam kết áp dụng phương pháp mới về lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (KTXH) có sự tham gia ở tất cả các huyện, xã. Sau thời gian thực hiện thí điểm trên quy mô rộng ở 4 huyện thí điểm trong năm 2007, Sở KHĐT đã ban hành phương pháp mới này như là một công cụ lập kế hoạch chính thức có tính bắt buộc. Việc áp dụng phương pháp mới về lập kế hoạch là bắt buộc. Là một mốc kế hoạch đến tháng 09/ 2008, trên cơ sở hội thảo các bên liên quan có sự tham gia, tất cả các xã trên địa bàn 7 huyện đã xây dựng được kế hoạch phát triển KTXH.
- Sở NNPTNT đã thành lập “Nhóm Tham vấn Nông nghiệp cấp tỉnh” ở tỉnh Quảng Bình nhằm hỗ trợ các ban ngành trực thuộc liên quan trong việc phát triển, thực hiện và giám sát các phương pháp khuyến nông có sự tham gia (PAEM), và nhằm lồng ghép các phương pháp này vào chiến lược dung hoà công tác khuyến nông có sự tham gia cấp tỉnh. Được xem như là một kết quả đầu ra, với sự hỗ trợ của Dự án SMNR-CV, một số tài liệu tập huấn cụ thể đã được in ấn, phát hành và được áp dụng trong các lớp tập huấn cho các nhóm mục tiêu do cán bộ khuyến nông thực hiện ở từng xã. Tháng 08/ 2008, Sở NNPTNT đã ban hành quyết định chính thức về việc lồng ghép phương pháp khuyến nông có sự tham gia như là yếu tố chính trong chiến lược phát triển nông nghiệp của tỉnh và việc áp dụng phương pháp này là bắt buộc.
- “Nhóm Xúc tiến Chuỗi giá trị” của tỉnh Quảng Bình đã được thành lập như là một nhóm không chính thức, không có mối liên quan trực tiếp đến bất cứ ban ngành liên quan nào nhưng nhóm bao gồm các thành viên đến từ các tổ chức nhà nước, các hiệp hội nhà sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ cũng như một số dự án, các tổ chức phi chính phủ (NGO) được tài trợ khác. Mặc dù (có lẽ vì), nhóm Xúc tiến Chuỗi giá trị không thuộc cơ quan nhà nước như các nhóm tham vấn khác nhưng nhóm có đóng góp to lớn trong việc thay đổi quan điểm, suy nghĩ của các thành viên theo hướng hướng tới thị trường hơn. Đồng thời, nhóm cũng đã thực hiện một số hoạt động liên quan đến Phát triển kinh tế địa phương, các hoạt động về cụm và chuỗi giá trị cũng như các Dịch vụ Phát triển Kinh doanh (BDS) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Đồng thời, dưới sự chủ trì của Sở NNPTNT nhưng trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh, nhóm Tham vấn Lâm nghiệp cấp tỉnh đã được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ, tham mưu cho Sở NNPTNT và UBND tỉnh Quảng Bình về các vấn đề chung có liên quan đến việc phát triển ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến việc xây dựng, thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển rừng. Nhóm Tham vấn Lâm nghiệp duy trì các nguyên tắc quản lý rừng bền vững đồng thời góp phần giới thiệu các khái niệm mới về lâm nghiệp cộng đồng (bao gồm các khái niệm do Dự án SMNR-CV xây dựng), nâng cao định hướng thị trường thông qua chế biến, thương mại và tiếp thị nhằm làm tăng giá trị gia tăng của ngành lâm nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế vì người nghèo ở tỉnh Quảng Bình.
Mặc dù, trọng tâm của chiến lược thực hiện Dự án không phải là việc thực hiện trên thực địa trực tiếp bởi cán bộ Dự án mà tập trung vào việc giám sát “phổ biến” trên quy mô rộng do các đối tác Dự án thực hiện nhưng Dự án vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động ở 7 xã thí điểm vùng nông thôn miền núi. Vì vậy, các cơ quan hành chính ở các xã này (UBND huyện, UBND xã) cũng như các hộ gia đình và các trưởng thôn (gọi là nhóm mục tiêu cuối cùng) là các đối tác quan trọng của Dự án SMNR-CV. Vì trong bối cảnh địa phương, tất cả những điều trên đây đều do huyện hướng dẫn cho nên về mặt gián tiếp UBND huyện và các phòng ban kỹ thuật cấp huyện cũng là đối tác của Dự án.
|
 |
|
Các đối tác bên phía Đức Trách nhiệm báo cáo bên phía Đức bao gồm các trao đổi không chính thức diễn ra thường xuyên và việc trình các tài liệu Dự án của Cố vấn trưởng lên Trụ sở chính của “Công ty Tư vấn GFA”. Sau đó, công ty Tư vấn GFA sẽ hỗ trợ các vấn đề về mặt hành chính (chẳng hạn như các vấn đề kế toán) và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật.
Phương pháp báo cáo “từ dưới lên” bên phía Đức trực tiếp hướng đến khách hàng của Công ty Tư vấn GFA, đó là “Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật” (GTZ). Đối với Dự án SMNR-CV cũng như các dự án khác, mối quan hệ này được dựa trên “Hợp đồng Tư vấn”. Hợp đồng Tư vấn này trình bày chi tiết về quyền và nghĩa vụ của hai bên. GTZ là một doanh nghiệp với 100% vốn nhà nước (Cộng hoà Liên bang Đức) có trụ sở tại Eschborn gần thành phố Frankfurt am Main. GTZ được thành lập năm 1975 với tư cách là một công ty theo luật tư nhân.
Là một Bộ thuộc Chính phủ Liên bang Đức, Bộ Hợp tác Phát triển Kinh tế Đức (BMZ) là nhà tài trợ cho đóng góp của Chính phủ Đức đối với Dự án. Chuyên gia lâm nghiệp Bộ BMZ tại Việt Nam đã đến thăm vùng Dự án (tháng 11/ 2008) và đánh giá rất cao về những thành tựu của GTZ trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ở Việt Nam, các dự án Hợp tác Phát triển Đức nói chung cũng như các dự án GTZ nói riêng được tổ chức thành 3 lĩnh vực. Dự án SMNR-CV là một phần thuộc lĩnh vực “Bảo vệ và Quản lý Tài nguyên thiên nhiên, Nước và Vệ sinh nguồn nước”. Hầu hết các dự án của GTZ thuộc lĩnh vực này (tất cả các dự án ngoại trừ chương trình về nước và vệ sinh nguồn nước) thành lập một nhóm có tên gọi là “nhóm xanh” hay còn gọi là nhóm hoặc chương trình MNR về quản lý tài nguyên thiên nhiên (xem thông tin chi tiết tại http://www.mnr.org.vn/). Dự án SMNR-CV cũng là một phần của Chương trình MNR. Thay mặt GTZ, điều phối viên của Chương trình MNR chịu trách nhiệm hành chính về Dự án.
Các đối tác khác bao gồm các mối quan hệ theo hệ thống không chính thức được xây dựng trong những năm gần đây giữa Dự án SMNR-CV với một số các dự án do GTZ và GFA thực hiện thông qua một vài mạng lưới ngành hàng và các nhóm công tác ở châu Á cũng như các dự án và các tổ chức của các nhà tài trợ khác ở Việt Nam. Đối với việc trao đổi thông tin chuyên môn, chỉ có một vài dự án, tổ chức được đề cập dưới đây:
- Hai trước Dự án SMNR-CV ở Tây Nguyên là: Dự án Phát triển Nông thôn Đắk Lắk (RDDL, xem http://www.rddl-daklak.org/) và dự án “Bảo vệ Môi trường và Quản lý Nguồn Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đắk Nông” (EPMNR). Cả hai dự án này đều do GFA thay mặt GTZ thực hiện và đều có cùng khái niệm và phương pháp thực hiện. Dự án RDDL được thực hiện từ năm 2003 và sẽ kết thúc vào cuối năm 2009. Dự án EPMNR chỉ mới bắt đầu gần đây cho nên quan tâm đến việc chuyển giao kỹ thuật.
- Một dự án khác cũng do GFA thay mặt GTZ thực hiện là dự án “Chế biến, kinh doanh và tiếp thị lâm sản” (PTM, xem chi tiết tại http://www.ptm.org.vn/). Dự án này là một hợp phần của Chương trình Lâm nghiệp Việt- Đức. Dự án “Chế biến, kinh doanh và tiếp thị lâm sản” tập trung vào các chuỗi giá trị của ngành công nghiệp đồ gỗ.
- Trong những năm qua, Chương trình Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME DP, xem chi tiết tại http://www.sme-gtz.org.vn/), do GTZ thực hiện ở bốn tỉnh thí điểm đã trở thành đối tác của Dự án SMNR-CV, đặc biệt là ở lĩnh vực Phát triển Kinh tế địa phương và Xúc tiến Chuỗi giá trị.
- Ở phần ngoài trong sơ đồ các mối quan hệ bên ngoài của Dự án SMNR-CV là các mạng lưới ngành hàng GTZ ở châu Á về Phát triển Nông thôn và Phát triển Kinh tế. Hai mạng lưới ngành hàng này tổ chức hội nghị chung hai năm một lần nhằm chia sẻ, trao đổi thông tin với nhau.
- Các nhóm không chính thức là các nhóm nhỏ của mạng lưới ngành hàng, cụ thể là “nhóm Mêkông” của các dự án phát triển nông thôn ở Việt Nam, Lào, Camphuchia; và Nhóm Chuỗi giá trị liên ngành của các dự án GTZ ở châu Á. Cả hai nhóm này đều tổ chức các cuộc họp định kỳ hai lần một năm. Các cuộc họp định kỳ của hai nhóm được chuẩn bị tốt và là cơ hội để các thành viên là các chuyên gia đến từ GTZ, các công ty tư vấn và các tổ chức khác trao đổi thông tin.
- Cuối cùng, Dự án SMNR-CV có mối quan hệ với mạng lưới các dự án, các tổ chức được tài trợ của ODA, các tổ chức phi chính phủ và các trung tâm nghiên cứu, đặc biệt là vùng dự án ở miền Trung Việt Nam. Mặc dù, tất cả các mối quan hệ này không chính thức nhưng đó là cách để làm tăng tính phổ biến các thành quả dự án. Điều đó có nghĩa là, các dự án và các tổ chức khác áp dụng và thực hiện một cách chủ động các phương pháp mới mà Dự án SMNR-CV đã xây dựng trên quy mô rộng hơn (phổ biến rộng rãi). Chẳng hạn, hiện nay phương pháp “Lập kế hoạch Phát triển Thôn xã” có sự tham gia đang được các dự án của ADB, Ngân hàng Thế giới, IFAD, Thuỵ Điển và các dự án song phương khác (mỗi dự án có ngân sách trên 30 triệu USD) áp dụng. Phương pháp này cũng được giảng dạy trong một số trường Đại học và các Học viện Hành chính nhà nước ở Việt Nam.
|
 |
|
|
 |
|
|
 |
|
|
 |
|
|