english version Tiếng Việt
Trang
Theo dõi & Đánh giá
1.Apr.2015
      >> /  Trang chủ /  Tổng quan Dự án /  Theo dõi & Đánh giá
     
 

Theo dõi & Đánh giá

Giám sát và Đánh giá Theo dõi, giám sát việc thực hiện dự án (các hoạt động và kết quả đầu ra)

Các cán bộ kỹ thuật của dự án và cán bộ hiện trường cấp huyện thường xuyên báo cáo tiến độ thực hiện các hoạt động dự án, mức độ hoàn thành các kết quả đầu ra, chỉ tiêu liên quan thông qua các cuộc họp văn phòng hàng tuần, họp giám sát và đánh giá hàng tháng, hàng quý.

Hệ thống giám sát và đánh giá của dự án theo thiết kế ban đầu theo phương pháp định hướng từng địa bàn hoạt động có phần hạn chế trong hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa. Theo hệ thống giám sát và đánh giá này, các số liệu, thông tin về kế hoạch phát triển cấp thôn, xã được cập nhật vào hệ thống dữ liệu giám sát của dự án theo từng xã và tổng hợp theo từng huyện.
Click để phóng to hình

Vào cuối giai đoạn I, các hoạt động dự án và việc theo dõi triển khai thực hiện dự án được tập trung chú trọng vào các xã vùng đệm và việc hoàn thành các tác động tổng thể của dự án tại cấp tỉnh. Vì thế, trong giai đoạn này hệ thống GSĐG dự án không dựa trên lĩnh vực hoạt động ít được chú trọng hơn. Thay vào đó, dự án thường xuyên thu thập số liệu, thông tin liên quan và tiến hành các cuộc điều tra nhằm có cơ sở đối chiếu việc triển khai thực hiện các mốc kế hoạch và việc hoàn thành các chỉ tiêu tác động của dự án – là các yếu tố chính trong hệ thống GSĐG giai đoạn II của dự án.

Giám sát tác động
Trước khi triển khai các hoạt động hỗ trợ cụ thể, dự án đã tiến hành điều tra ban đầu về điều kiện kinh tế - xã hội của người dân trong vùng dự án để làm cơ sở xây dựng các hoạt động và có số liệu ban đầu phục vụ mục đích theo dõi và đánh tác tác động dự án sau này. Cụ thể, gần cuối giai đoạn I, tổ chức GTZ đã tiến hành đánh giá tiến độ thực hiện dự án giữa kỳ nhằm đối chiếu mức độ hoàn thành các chỉ tiêu liên quan của dự án như thu nhập tăng thêm của các hộ gia đình thuộc các nhóm mục tiêu, sự tham gia của người dân vào quá trình lập kế hoạch, tỷ lệ nghèo đói và các hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp liên quan.  

Trên cơ sở các chỉ tiêu tác động dự án được xây dựng cho giai đoạn II, dự án đã xây dựng các mốc kế hoạch cụ thể nhằm định hướng hoàn thành các chỉ tiêu đưa ra. Các mốc kế hoạch cụ thể là cơ sở để dự án xác định các hoạt động và khung thời gian thực hiện phù hợp đối với hoạt động và tài liệu hóa quá trình thực hiên nhằm mục đích hoàn thành các chỉ tiêu đưa ra. Các mốc kế hoạch cụ thể được đưa vào kế hoạch hoạt động hàng năm của dự án và là yếu tố bắt buộc trong các thỏa thuận thực hiện dự án được ký kết với các cơ quan đối tác. Xem các mốc kế hoạch dự án đưa ra trong năm 2008 sau đây:

Mốc kế hoạch năm 2008

Lĩnh vực hoạt động 1: Lập kế hoạch PTKTXH có sự tham gia

  • Vào tháng 03/2008, tổ chức hội thảo đúc rút kinh nghiệm trên cơ sở áp dụng thí điểm quy trình lập kế hoạch PTKTXH có sự tham gia ở 4 huyện. 
  • Đến tháng 05/2008, UBND tỉnh có quyết định công nhận chính thức quy trình lập kế hoạch PTKTXH có sự tham gia tại cấp xã, bao gồm cả tài liệu hướng dẫn cụ thể về cách áp dụng quy trình trên địa bàn tất cả các xã và huyện trong tỉnh.
  • Đến tháng 09/2008, quy trình lập kế hoạch PTKTXH có sự tham gia được áp dụng trên địa bàn tất cả các xã thuộc 7 huyện, thành trong tỉnh.

Lĩnh vực hoạt động 2a: Phương pháp khuyến nông có sự tham gia

  • Đến tháng 06/2008, phương pháp khuyến nông có sự tham gia được áp dụng và đánh giá tại ít nhất 3 xã / huyện, thành (tổng cộng ít nhất 21 xã).
  • Đến tháng 09/2008, phương pháp khuyến nông có sự tham gia được chính thức công nhận thông qua quyết định của Giám đốc Sở NN&PTNT, để đưa vào áp dụng bắt buộc tại tất cả các xã và huyện nông thôn trên địa bàn tỉnh.
  • Đến tháng 12/2008, phương pháp khuyến nông có sự tham gia được áp dụng ít nhất trên 40% tổng số các xã trên 7 địa bàn huyện/thành, nâng tổng số xã áp dụng phương pháp này lên 63 xã.

Lĩnh vực hoạt động 2b: Xúc tiến chuỗi giá trị

  • Đến tháng 06/2008, có ít nhất 01 sản phẩm/tiểu ngành phù hợp (ngoài sản phẩm/tiểu ngành đã được xác định trong năm 2007) được xác định để đưa vào áp dụng phương pháp Chuỗi giá trị;
  • Đến tháng 09/2008, Hiệp hội Nuôi ong hai huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá có khả năng tự quản lý và hoạt động một cách độc lập, không cần sự hỗ trợ từ dự án.
  • Đến tháng 12/2008, kết quả điều tra đại diện về thu nhập ròng phụ thêm của các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào Chuỗi giá trị Nuôi ong lấy mật, trồng dâu nuôi tằm và 01 Chuỗi giá trị phù hợp mới được xác định cho thấy thu nhập ròng phụ thêm của họ từ hai tiểu ngành này được tăng lên ít nhất 10% trong năm 2008.

Lĩnh vực hoạt động 3: Lâm nghiệp cộng đồng

  • Đến tháng 03/2008, việc thực hiện Thông tư 38/2007/TT-BNN được lồng ghép với phương pháp QHSD đất và GĐGR có sự tham gia và thể chế hoá Phương pháp Giao đất giao rừng vào tháng 3/2009
  • Đến tháng 8/2008, phương pháp xây dựng quy ước BV&PTR được áp dụng trên địa bàn tất cả các xã của ít nhất 4 huyện trong tỉnh Quảng Bình.
  • Đến tháng 03/2009, có văn bản của tỉnh công nhận phương pháp “Quản lý rừng cộng đồng, với nội dung văn bản được áp dụng trên địa bàn ít nhất 2 huyện trong tỉnh Quảng Bình.

Bên cạnh việc tiến hành đánh giá nội bộ dự án, các công cụ đánh giá bên ngoài cũng thường được các dự án do GTZ hỗ trợ áp dụng thực hiện. Đối với dự án SMNR-CV, Dự án đã áp dụng công cụ e-VAL vào tháng 5 năm 2005 và vào tháng 5 năm 2007 và kết quả cho thấy phần lớn các đối tác của Dự án và các nhóm mục tiêu đều đánh giá các thành quả mà dự án đạt được là thành công. Đến cuối giai đoạn thực hiện thứ nhất, Đoàn đánh giá tiến độ giữa kỳ dự án về cơ bản đã khẳng định lại kết quả đáng khích lệ này và nêu ra một số đề xuất trong báo cáo đánh giá của đoàn liên quan đến việc trọng tâm định hướng và việc tổ chức thực hiện của dự án trong giai đoạn 2.

 
  Imprint @ 2009 Sơ đồ mạng Đã cập nhật 2009-04-09