english version Tiếng Việt
Trang
Quản lý rừng cộng đồng
1.Apr.2015
      >> /  Trang chủ /  Lâm nghiệp cộng đồng /  Quản lý rừng cộng đồng
     
 

Quản lý rừng cộng đồng

Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng” thường thể hiện một dạng quản lý rừng trong đó toàn bộ cộng đồng thôn bản được giao quyền sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng và đang bảo vệ, quản lý bền vững và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng vì những mục tiêu về môi trường cũng như đóng góp vào sinh kế của họ. Trong bối cảnh tỉnh Quảng Bình, gần như toàn bộ diện tích đất rừng được giao cho các hộ gia đình dẫn đến việc các hộ gia đình được cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) cùng với một thửa rừng khá nhỏ khiến cho việc quản lý, bảo vệ và theo dõi các mảnh rừng bị chia nhỏ này trở nên rất khó khăn. Trong điều kiện như vậy, việc thành lập các nhóm hộ sử dụng rừng cùng tham gia vào quy trình lập kế hoạch, báo cáo và phê duyệt được xem là một hướng quản lý hợp lý. Khái niệm về các hộ có quyền sử dụng riêng song cùng nhau quản lý và bảo vệ rừng được đề cập đến dưới tên gọi Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ)
Click để phóng to hình

Dự án SMNR-CV cùng với các đối tác trong lĩnh vực lâm nghiệp đã xây dựng cuốn tài liệu về QLRCĐ. Bản cập nhật gần nhất của cuốn tìa liệu - tháng 1 năm 2009 - đã phản ánh tính hình cụ thệ của tỉnh Quảng Bình và cung cấp i) phần giới thiệu về khái niệm QLRCĐ và ii) các quy trình kỹ thuật và hành chính trong thúc đẩy các quy trình lập kế hoạch QLRCĐ cùng với cộng đồng dân cư địa phương.

Các quy trình lập kế hoạch được miêu tả trong cuốn tài liệu chỉ là một phần trong toàn bộ quy trình lập kế hoạch có sự tham gia bắt đầu với bước xây dựng Quy ước Bảo vệ và Phát triển rừng (Quy ước BVPTR) và Giao đất giao rừng (GĐGR). Chính vì vậy, cuốn tài liệu này được xây dựng dựa trên các kết quả đạt được của các quy trình trước đó trước khi bắt đầu công tác QLRCĐ.

QLRCĐ là một khái niệm tương đối mới với VIệt Nam và đặc biệt là đối với Quảng Bình. Do đó, QLRCĐ đã được thí điểm và theo dõi một cách cẩn trọng trong những năm gần đây để đánh giá tiềm năng của phương pháp này trong việc tăng cường công tác quản lý rừng, bao gồm hoạt động phát phiển rừng và bảo vệ rừng, đồng thời tăng phần hưởng lợi (hợp pháp) của người dân từ các nguồn tài nguyên rừng mà họ đang quản lý. Công tác QLRCĐ nêu trong cuốn tài liệu này được trên các nguyên tắc cơ bản sau:

  • Có sự tham gia của người dân - Các hoạt động độc lập tiếp nối quy trình lập kế hoạch chỉ có thể được thực hiện thành công nếu người dân liên quan được tham gia đầy đủ vào các quy trình ra quyết định và hiểu rõ kết quả cuối cùng của quá trình lập kế hoạch. Nếu người dân không quan tâm đến công tác quản lý rừng và không thể hiện được vai trò chủ động của mình trong quá trình ra quyết định, việc thực hiện trên thực tế sẽ cho ra kết quả nửa vời, hoặc có khả năng bị hiểu nhầm và thậm chí thất bại trong khi thực hiện.
  • Đơn giản – để mọi người đều hiểu rõ vấn đề đang xảy ra và có thể thực hiện nó
  • Hiệu quả về chi phí – đảm bảo thực hiện được các quy trình QLRCĐ chỉ với nguồn lực sẵn có của địa phương
  • Tính tương ứng – đảm bảo quy trình lập kế hoạch QLRCĐ chỉ cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác quản lý rừng
  • Tăng cường quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể xảy ra trong tương lai
  • Phản ánh nhu cầu của người dân địa phương trong đánh giá và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng (và không chỉ đơn thuần sử dụng biện pháp cấm khai thác các loại lâm sản)
  • QLRCĐ chỉ có thể trở nên bền vững nếu các quy trình phù hợp với khuôn khổ chính sách pháp ly hiện hành.

Cuốn tài liệu QLRCĐ được sử dụng như một công cụ cho các cán bộ làm việc trực tiếp với người dân trong quá trình phát triển, xây dựng và thực hiện các bản kế hoạch QLRCĐ. Các cán bộ có thể là cán bộ dự án, các khuyến nông viên hoặc các cán bộ hỗ trợ của các ban ngành cấp huyện và xã và chính họ sẽ là người thúc đẩy và hỗ trợ người dân địa phương trong quá trình thực hiện QLRCĐ. 

Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, các tổ chức có thể áp dụng và thúc đẩy thực hiện QLRCĐ tại thực địa. các ban ngành cấp huyện như Phòng Tài nguyên Môi trường, Hạt kiểm lâm và Phòng Kinh tế có thể hỗ trợ và thúc đẩy người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện các kế hoạch QLRCĐ với sự phối hợp của các cán bộ xã và có sự hỗ trợ của các cán bộ cấp tỉnh.

Song song với việc tiếp tục điều chỉnh để hoàn thiện cuốn tài liệu QLRCĐ, Dự án SMNR-CV đã tổ chức nhiều đợt tập huấn cho các đối tác của Dự án và các nhóm mục tiêu về phương pháp mới “Điều tra danh mục rừng có sự tham gia”, về cách sử dụng công nghệ định vị toàn cầu GPS và về các kỹ thuật lâm sinh. Từ năm 2005, Dự án đã triển khai và hỗ trợ việc xây dựng các mô hình trình diễn về QLRCĐ tại 4 xã thí điểm của Dự án. Sau gần 4 năm thực hiện, các mô hình QLRCĐ đã cho thấy các kết quả tích cực đối với toàn bộ 4 hình thức sử dụng rừng khác nhau

Click để phóng to hình
Diện tích rừng trồng mới bằng các loài Keo đã phát triển rất tốt, cây có chiều cao trên 4m, phát triển khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh. Đây là loài cây có chu kỳ kinh doanh ngắn (6 – 7 năm) điều đó giúp cho Nhóm hộ cải thiện thu nhập kinh tế hộ và tái đầu tư phát triển rừng bằng các loài cây bản địa có tính bền vững cao. Dự tính diện tích rừng trồng sẽ được khai thác vào năm 2010 với sản lượng gỗ lên đên 120m3.
Click để phóng to hình
Diện tích kinh doanh lâm sản ngoài gỗ: Loài cây lâm sản ngoài gỗ được lựa chọn đưa vào mô hình là các loài Mây, đặc biệt là cây Mây Tắt (Calamus tetradactylus Hance). Qua 3 năm thực hiện cây Mây đã cho thấy nó rất phù hợp với điều kiện vi khí hậu và lập địa của mô hình với mô hình trồng xen dưới tán rừng. Đến nay, cây phát triển rất tốt, có chiều cao bình quân 2m.
Click để phóng to hình
Diện tích trồng làm giàu rừng với các loài cây Bản địa: Các loài cây bản địa đưa vào mô hình bao gồm: Trầm hương (Aquilaria crassna), Lát Hoa (chukrasia tabularis A.Russ), Huê (dalbegia tonkinesis). Đến thời điểm này, các loài cây bản địa tại các mô hình đang phát triển khá tốt. Tại các ô hình trên, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã được thực hiện bao gồm tỉa thưa có chọn lọc các loài cây phi mục đích, luống phát các loài cây bụi để tạo không gian cho cây mục đích phát triển, đồng thời trồng bổ sung các loài cây bản địa có mục đích dưới tán rừng.
Click để phóng to hình
Sau khi thực hiện các công tác bảo vệ rừng trong khu vực rừng tự nhiên, các thành viên nhóm hộ nhận thức rõ hơn giá trị kinh tế của rừng. Các hộ đã tiến hành các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn việc khai thác trái phép rừng của người dân địa phương và không cho gia súc vào rừng phá hoại. Đến nay, không còn xẩy ra các vụ xâm phạm rừng như trước đây nữa. Rừng đã được phục hồi một cách khả quan.
 
  Imprint @ 2009 Sơ đồ mạng Đã cập nhật 2009-03-25